Abstract:
Ở Việt Nam chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông
nghiệp cũng như nền kinh tế quốc dân. Trong đó chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong
ngành chăn nuôi chúng ta. Tuy nhiên người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, đặc biệt
nuôi heo ở giai đoạn sau cai sữa. Bởi vì trong giai đoạn này, lợn con cùng một lúc chịu
tác động của nhiều stress: Stress dinh dưỡng, tress sinh lý (Fraser và cs, 1998;
Nabuurs, 1998). Hậu quả làm giảm sức tiêu thụ thức ăn, giảm chiều cao của lông
nhung, tăng độ sâu của hốc niêm mạc ruột, giảm hàm lượng và hoạt tính của các
enzyme nội sinh, tăng nhiễm các vi sinh vật có hại dẫn tới làm mất cân bằng hệ vi sinh
vật đường ruột. Đồng thời, còn làm giảm tỷ lệ tiêu hóa, tăng tỷ lệ còi cọc và đặc biệt
thường mắc hội chứng tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể về năng suất chăn nuôi và hiệu
quả kinh tế.
Để khắc phục được tình trạng này, phương pháp thường được sử dụng là bổ
sung kháng sinh liều thấp trong thức ăn (Pluske và cs, 2002). Tuy nhiên, kháng sinh sẽ
tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi gây hại sức khỏe cho cả người tiêu dùng có thể xảy
ra như sau: Gây dị ứng với kháng sinh khi tiêu thụ thịt có tồn dư kháng sinh, một số
kháng sinh tổng hợp có nguồn gốc từ Quinolon như Carbadox, norfloxacine....tồn dư
trong thực phẩm có thể gây ung thư cho người (Dương Thanh Liêm và cs 2002). Mặt
khác do sức ép ngày càng tăng của việc cấm sử dụng kháng sinh như chất kích thích
sinh trưởng, hoocmon trong thức ăn chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, việc nghiên
cứu và sử dụng những chất thay thế đang ngày một đòi hỏi cấp bách. Những chất bổ
sung thay thế được quan tâm nghiên cứu và sử dụng nhiều là các chế phẩm sinh học
probiotic, prebiotic, các chế phẩm enzyme tiêu hóa, các chất phytogenic.